Monthly Archives: January 2018

Kỹ thuật nuôi thịt cua đồng ở Trung Quốc

Ao đất thường có kích thước giữa 0,6 đến 2 ha, với độ sâu 1,5-1,8 m, có hàng rào tương tự như ao ương để ngăn cua thoát ra ngoài và ngăn các loài địch hại xâm nhập ao. tag: máy quạt nước

Kỹ thuật nuôi thịt cua đồng ở Trung Quốc

Trước khi thả nuôi, ao thường được khử trùng bằng vôi (2.000 đến 3.000 kg mỗi ha) và 10 ngày sau khi khử trùng, thực vật thủy sinh, chẳng hạn như Vallisneria spiralis, Hydrilla verticillata, Ceratophyllum demersum, maackianus Potamogeton và Myriophyllum spicatum được trồng trong ao.

Một tháng hoặc hơn một tháng trước khi thả nuôi cua, ốc bùn sống (Bellamya purificata), là thức ăn ưa thích của cua được nuôi trong các ao (3.500 đến 4.500 kg mỗi ha) để chúng sinh sản làm thức ăn cho cua. Phân bón lên men hữu cơ áp dụng 10-20 ngày trước khi thả cua giống để tăng sinh khối thức ăn tự nhiên trong ao.

Mật độ thả giống cua giống đồng xu khoảng 7.500 cua mỗi ha, và chúng cũng thường được nuôi ghép với các loài cá nước ngọt khác nhau và tôm, có thể được thả vào các thời điểm khác nhau. Việc xem xét quan trọng để lựa chọn các loài cá nuôi ghép là thức ăn của chúng không cạnh tranh với cua. Trong thời gian nuôi, chất lượng nước cần phải được giám sát chặt chẽ.

Oxy hoà tan nên khoảng 5mg/L, pH 7-8,5 và độ trong giữa 50 và 80 cm. Năng suất mỗi ha mỗi năm thay đổi, tùy thuộc vào cường độ của nuôi ghép, nhưng thường gần 1.000 kg cua, cộng với khoảng 2.000 kg cá và tôm nước ngọt khác nhau.

Đối với nuôi đăng quần, mật độ thả giống từ 1.500 đến 9.000 con cua mỗi ha. Tại một số địa điểm với năng suất thức ăn tự nhiên tốt, cua không cần cho ăn bổ sung.

Tại những nơi năng suất tự nhiên thấp cần bổ sung ốc sen Bellamya purificata được thả từ 6,000-7,500 kg ốc cho mỗi ha trước khi thả nuôi cua và đôi khi thả bổ sung ốc một lần nữa sau khi thả cua giống.

Chế độ cho ăn bổ sung bao gồm cá tạp băm nhỏ và ngô  và lúa mì nấu chín ở mức 7-8% trọng lượng cua mỗi ngày. tag: may thoi khi

Tỉ lệ sống cua thịt thường khoảng 40-50%. Nuôi đăng quần đạt  lợi nhuận cao hơn các phương pháp nuôi khác bởi vì có chất lượng nước tốt hơn và sử dụng được thức ăn tự nhiên. Ngoài ra, bởi vì mật độ thấp, cua phát triển lớn hơn và thu được giá cao hơn. Nói chung, năng suất từ ​​nuôi đăng quần khoảng 150-450 kg mỗi ha, đôi lúc có thể đạt đến 1.000 kg mỗi ha.

Nuôi ruộng lúa cua thịt phổ biến ở miền bắc Trung Quốc. Cánh đồng lúa cần thiết kế cho phù hợp nuôi cua, như hàng rào, các kênh mương bao quanh và thực vật thủy sinh. Một trong những khác biệt chính là kênh mương bao quanh cần phải sâu hơn 1,5 mét. Ngoài ra, một ao nhỏ (100-200 m2 với độ sâu 1,5 m) cần phải được đào để thích nghi cho cua đồng xu có kích thước nhỏ và cho việc lưu trữ tạm thời cua thịt trong thời gian thu hoạch.

Mật độ thả trong nuôi ruộng lúa dao động từ 1 đến 1,5 con  cua đồng xu cho mỗi mét vuông. Khi ruộng lúa đã trồng lúa, độ sâu nước thường được giữ ở mức thấp 5-10 tại cm. Nước được trao đổi thường xuyên hơn bởi vì mức độ thấp của nước trong ruộng lúa và việc thay nước thường xuyên nhằm tránh biến động lớn về nhiệt độ.

Bởi vì thức ăn tự nhiên trong các ruộng lúa tương đối thấp, cua cần phải được cho ăn bổ sung một lần hoặc hai lần một ngày với thức ăn bổ sung như lúa mì, ốc, cá tạp, tôm thùng rác hoặc ốc bùn. Nguồn thức ăn cung cấp này thường được nấu chín để tránh các vấn đề chất lượng nước trong vùng nước nông.

Với quản lý hợp lý, nuôi cua ruộng lúa có thể đạt được năng suất 300-450 kg mỗi ha, và đôi khi 750 kg cho mỗi ha. Mặc dù cua ăn trên cây lúa, chúng cũng ăn côn trùng và địch hại cây lúa nhờ đó có thể cải thiện sản xuất lúa gạo, và cua nuôi ruộng lúa được xem như cua “hữu cơ”  sẽ có giá trị cao hơn khi bán ra thị trường và mang lại các lợi ích kinh tế đáng kể.

Thị trường cua Trung Quốc chủ yếu được tiêu thụ trong nước ở Trung Quốc mặc dù nó cũng được xuất khẩu sang các nước khác như Singapore dưới dạng cua cái mang trứng và cua lớn để có giá cao nhất. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-thit-cua-dong-o-trung-quoc-36616.html

Cá nhụ đối tượng nuôi triển vọng cho vùng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu

Nhưng nghề nuôi cá biển còn gặp khó khăn do phụ thuộc vào con giống tự nhiên, cùng với sự phát triển thiếu qui hoạch, kỹ thuật nuôi chưa được chuyển giao cho nông dân, thị trường tiêu thụ chưa ổn định nên nghề nuôi cá biển ở nước ta chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có. tag: máy quạt nước

Cá nhụ đối tượng nuôi triển vọng cho vùng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu

Nước ta lại là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Việc nước mặn có khả năng xâm nhập sâu vào nội địa là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Vì vậy, việc đưa một số loài cá biển như cá nhụ có giá trị kinh tế, có khả năng thích nghi biên độ muối rộng, có thể sống trong vùng nước ngọt, lợ và mặn là rất cần thiết.

Cá nhụ (Eleutheronema tetradactylum)

Cá nhụ (Eleutheronema tetradactylum) còn được gọi là cá chét là loài cá biển có giá trị kinh tế. Cá nhụ được nuôi phổ biến các nước như Thái Lan (chiếm 52% sản lượng), Indonesia (14%), Burundi (13%) và các nước còn lại như Cambodia, Bangladesh, Lào và Malaysia (theo thống kê của FAO năm 2009).

Tổng sản lượng cá nhụ nuôi (nuôi chủ yếu trong nước ngọt) trong năm 2009 vào khoảng hơn 109,7 nghìn tấn với giá trị khoảng 110,6 triệu USD. Thái Lan là nước dẫn đầu về sản lượng nuôi của loài cá này. tag: may thoi khi

Nuôi thương phẩm trong ao và lồng bè được triển khai nuôi thành công tại Singapore. Giá bán trên thị trường vào khoảng 190.000 – 240.000 đ/kg. Tại Malaysia giá cá thương phẩm vào khoảng 154.000 đ/kg. Tại Việt Nam giá bán tại chợ khoảng 60.000 đ/kg.

Cá nhụ được nuôi trong ao đất và lồng bè (giống như hệ thống nuôi cá chẽm) nhưng mật độ cao hơn vào khoảng 3-4 con/m2 (cở cá: 5-7,5 cm). Là loài cá ăn động vật nên chúng có thể ăn thịt lẫn nhau và rất nhạy cảm với nồng độ oxygen thấp.

Khi nuôi trong điều kiện môi trường tối ưu, tỉ lệ sống khá cao 80-90% khi đạt kích thước thu hoạch, với thức ăn công nghiệp của cá chẽm (30% protein) và hệ số FCR trên 2. Cá này có thể phát triển đạt 300-400g trong 10 tháng.

Cá nhụ Thái bình dương (Polydactylus sexfilis) được nuôi thương phẩm phổ biến trong các hệ thống nuôi như trong ao đất, nuôi thâm canh trong bể tròn, hệ thống raceway và nuôi trong lồng bè.

Sử dụng thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm cao 50% và lipid 12%, hệ số FCR 0,59-0,68.

Tỉ lệ sống đạt trên 95%. Khi nuôi loài cá này cần duy trì hàm lượng oxy hòa tan trên 5 ppm. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ca-nhu-doi-tuong-nuoi-trien-vong-cho-vung-xam-nhap-man-do-bien-doi-khi-hau-36618.html

Các vấn đề của đáy ao nuôi tôm

Do môi trường đất đáy ao diễn ra nhiều quá trình phản ứng tác động đến chất lượng nước nên người nuôi tôm luôn phải chú trọng đến các vấn đề như là: tag: máy quạt nước

Các vấn đề của đáy ao nuôi tôm

– Đất hữu cơ hoặc đất phèn tiềm tàng ở khu vực xây dựng ao

-Trầm tích, bùn lắng

– Chất hữu cơ tích tụ và trạng thái hoạt động yếm khí ở đáy ao.

1-    Đất hữu cơ, đất phèn tiềm tàng

Ở các ao nuôi quảng canh, tôm hấp thu dinh dưỡng bằng việc ăn các sinh vật là nguồn thức ăn tự nhiên phát triển ở đất đáy ao. Sự trao đổi dinh dưỡng giữa đất đáy ao với lớp nước phủ bên trên và pH của đất đáy ao ảnh hưởng lớn đến hàm lượng dinh dưỡng có sẵn đối với thực vật phù du và tảo đáy.

Tình trạng axít cao trong đất ngăn cản sự phân hủy chất hữu cơ và tái tạo dinh dưỡng, giảm sự sẵn có của phosphate qua sự hình thành phosphate nhôm và sắt không hòa tan, đồng thời có các tác động trực tiếp ức chế đến sinh vật đáy và tôm.

Ở một số nơi, nguồn nước cung cấp cho ao chứa hàm lượng lớn các hạt bùn lơ lửng, sau đó chúng sẽ lắng đọng ở đáy ao và tiêu diệt động vật đáy. Lượng chất hữu cơ dư thừa trong đất có thể gây ra trạng thái yếm khí ở đáy ao tác động xấu đến sinh vật đáy và tôm.

Tuy nhiên, ngoại trừ các ao làm ở vùng đất hữu cơ tự nhiên, hoặc đất phèn tiềm tàng, hoặc hàm lượng cao chất lơ lửng trong nguồn nước thì việc quản lý đất nền đáy ao không có tầm quan trọng trong nuôi quảng canh. Ở một số vùng nuôi tôm, đất ở dạng hạt lơ lửng trong nguồn nước cấp được lấy ra thông qua quá trình lắng cặn trước khi tháo nước vào ao.

Chất cặn lắng cũng có thể lấy ra khỏi ao xen kẽ giữa vụ, nhưng cách tốt hơn thường để lại cặn lắng/bùn trong các ao không, phơi khô, cày và rải vôi đáy để tăng cường phân hủy hữu cơ.

Phơi quá khô và rải vôi nhiều làm chậm hoạt động của vi khuẩn và phản tác dụng. Ít khi cần bón vôi trong giai đoạn nuôi, bởi vì nước lợ có độ đệm tốt.

Các ao đất phèn đáy có thể có những hạn chế pH gắt gao là do quá trình oxy hóa quặng sắt. Tốt hơn hết là bảo vệ lớp đất phèn tiềm tàng này khỏi các điều kiện oxy hóa làm sản sinh axít thay vì bỏ vào trong ao một lượng lớn vôi để trung hòa axít trong đất không được bảo vệ khỏi các điều kiện oxy hóa.

Luôn luôn để nước đầy trong ao càng nhiều càng tốt. Ao không được đào sâu hơn mức cần thiết và bề mặt bờ ao nhỏ nhất có thể. Cần kiểm tra độ kiềm thường xuyên để điều chỉnh bón vôi. Công việc cải tạo ao đất phèn tiềm tàng nhanh có thể bị tác động bởi quá trình định kỳ phơi khô, rửa đáy và bờ ao cũng như chọn đúng loại vôi thích hợp. tag: may thoi khi

2-    Trầm tích, bùn lắng

Ở các ao nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh, lượng chất hữu cơ có thể tích tụ đáng kể ở đáy ao. Thức ăn đưa vào ao để giúp cho tôm tăng trưởng lắng xuống đáy ao và được tôm ăn gần hết. Các chất dinh dưỡng vô cơ được giải phóng vào trong nước từ quá trình phân hủy thức ăn thừa, phân tôm của vi khuẩn sẽ kích thích thực vật phù du nở hoa mật độ dày.

Các tế bào thực vật phù du có đời sống ngắn ngủi, liên tục chết và chìm xuống đáy ao.

Ở một số nơi, nguồn nước cấp chứa hàm lượng các chất hữu cơ đáng kể lơ lửng trong nước có thể lâu dần đọng ở đáy. Tốc độ thay nước nhiều có thể làm gia tăng lượng trầm tích và bùn. Sục khí cơ học thường xói mòn đất đáy ao ở chỗ có dòng nước chảy mạnh và tụ lại ở chỗ dòng nước chảy chậm, như thế nó sẽ biến đổi hình dạng đáy ao, giảm thể tích ao và cung cấp các chất nền hữu cơ cho vi sinh vật.

3-    Chất hữu cơ tích tụ và hoạt động yếm khí ở đáy ao

Các quá trình sinh, hóa, lý diễn ra ở môi trường bề mặt lớp đất đáy ao đan xen lẫn vào nhau phức tạp liên quan đến chất lượng nước và năng suất nuôi. Thức ăn thừa, phân tôm, xác của các vi sinh vật dưới nước và đất lắng xuống đáy ao nơi mà ở đó quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ cặn lắng này có thể làm giảm hoặc tụt mức oxy hòa tan.

Dòng chảy của nước yếu nhất ở mặt phân giới giữa đất và nước – nơi mà vi sinh vật nhanh chóng phân hủy chất hữu cơ và lượng oxy hòa tan có thể bị tiêu hao nhanh hơn là do hoạt động của dòng chảy có thể tạo ra.

Điều này có thể dẫn đến trạng thái yếm khí ở đáy ao ngay cả khi nước ở bên trên có thể đã đủ oxy hòa tan.  Trong đất và bùn ở điều kiện yếm khí, vi sinh vật có thể sản sinh ra nitrite, sắt hóa trị II, hydrogen sulfide, mêtan và giải phóng các hỗn hợp khác có thể gây hại cho tôm.

Sự phân hủy yếm khí dẫn đến giảm quá trình oxy hóa khử nitrite, hydrogen sulfide tiềm tàng ở nồng độ cao và có thể sản sinh ra các chất khử khác.

Việc thay nước, sục khí cơ học và tạo tuần hoàn nước thường được sử dụng để tăng oxy hòa tan, ngăn chặn sản sinh các chất khử và tăng cường phân hủy các chất hữu cơ ở đáy ao. Tuy nhiên, sự tuần hoàn nước ở tốc độ cao có thể xói mòn đáy và có thể gây ra các vấn đề lắng đọng ở các chỗ khác của đáy ao. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-van-de-cua-day-ao-nuoi-tom-36619.html

Phát triển công nghệ sáng tạo nuôi tôm trong nhà

Sau đó Tiến sỹ Addison L. Lawrence, một nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm nuôi trồng hải sản của Trạm Nghiên cứu Nông nghiệp Texas, đã có một ý tưởng đơn giản nhưng đó là cuộc cách mạng nông nghiệp: Tại sao không xếp chồng các bể nước lên nhau để nuôi tôm ? tag: máy quạt nước

Phát triển công nghệ sáng tạo nuôi tôm trong nhà

Và một khái niệm ra đời  “Nuôi siêu thâm canh bằng các hệ thống bể nước chảy xếp chồng lên nhau” một ý tưởng sáng tạo có thể sản xuất lên đến 1.000.000 pounds tôm hàng năm (1 pound bằng 0,453 kg) trên 0,4 ha diện tích mặt nước, so với 20.000 pounds sản xuất trong ao hay 50.000 pounds sản xuất trong các hệ thống nước chảy trước đây, Tiến sĩ Lawrence cho biết Công nghệ này hiện đã được sử dụng trong một cơ sở sản xuất.

Đối với Tiến sĩ Lawrence, ý tưởng “đơn giản” của việc chồng các bể lên nhau đạt hiệu quả nếu ông có thể tìm ra cách làm thế nào để làm cho chúng nhẹ hơn. tag: may thoi khi

Ông nhớ lại những gì đã xảy ra tiếp theo: “Tôi đã đi đến các trường kỹ thuật. Tôi nói, ‘OK, độ sâu tối đa của bể nuôi là những gì mà tôi cần, nó sẽ là kinh tế để xếp chồng các bể lên nhau ?

“Họ nói,’ Ông không thể có được độ sâu hơn 12 inches nước (mỗi inch = 2,54 cm). Lý do là, trọng lượng tăng lên rất nhiều và Ông sẽ mất đi sự hỗ trợ cấu trúc khi xếp chồng các bể nuôi tôm lên nhau”.

Một năm sau, Tiến sĩ Lawrence đã tiến hành thí nghiệm nuôi tôm trong nước nông cạn đầu tiên của mình, Ông phát hiện tôm có thể phát triển trong độ sâu ít nhất là 4 inches nước. “Ông nói: “Đó là điều không thể tin nổi. Vì vậy, Ông đã dành 4-5 năm tiếp theo tiến hành thí nghiệm sau khi thí nghiệm, thử nghiệm nó theo nhiều cách khác nhau, để xác nhận với mình rằng cách tiếp cận này là kinh tế và có thể thực hiện được”.

Cuối cùng, trong năm 2008, Ông đã đăng ký bằng sáng chế cho hệ thống nuôi tôm bằng các bể nuôi hình chữ nhật xếp chồng lên nhau và được kiểm soát bằng máy tính, bể nuôi có độ sâu mức nước khoảng  6-8 inch nước, và xếp chồng lên nhau 7 lớp chiều cao.

Hiện nay Công ty sản xuất thủy hải sản Royal Caridea,  đã mua bản quyền công nghệ này và xây dựng cơ sở sản xuất trong năm 2012. Tiến sĩ Lawrence dự đoán rằng, trong thời gian tới, mỗi khu vực đô thị lớn sẽ có một trang trại tôm ở bên phải nó “và rằng sẽ không có lý do gì để phụ thuộc nhiều vào nguồn tôm nhập khẩu nữa”. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phat-trien-cong-nghe-sang-tao-nuoi-tom-trong-nha-36620.html

Kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp của Úc – Phần 1

1. Chọn lựa vị trí và địa hình

–  Hầu hết các vùng đất ven biển là thích hợp cho nuôi tôm biển, tuy nhiên để tìm được vùng đất lý tưởng cho nuôi tôm là rất khó vì những vùng đất thuộc vùng khô cằn ven biển thường sẽ bị thiếu nước ngọt và độ mặn tăng cao do quá trình bốc hơi trong khi những vùng đất ven biển nơi có lượng mưa cao thì sẽ gặp vấn đề độ mặn xuống quá thấp hoặc mùa vụ nước ngọt kéo dài gây bất lợi cho nuôi tôm. Vì vậy, những vùng đất nội đồng nhiễm mặn lại là những vùng nuôi thích hợp cho độ mặn thấp. tag: máy quạt nước

Kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp của Úc - Phần 1

–  Địa hình lý tưởng là những vùng đất phẳng và khoảng cách đến nguồn nước biển không được vượt quá 1Km và có cao trình phải cao hơn 1m so với mức thủy triều cao nhất nhưng không được vượt quá 10m so so với mức thủy triều cao nhất.

Ao xây dựng ở những vùng đất thấp hơn 1m so với  mức thủy triều cao nhất sẽ không tháo cạn được nước trong lúc triều cường trong khi ao xây dựng ở những vùng cao trình lớn hơn nhiều so với mức thủy triều cao nhất sẽ tốn kém năng lượng máy bơm và đẩy chi phí giá thành lên cao. Vì vậy, cao trình vừa phải là chọn lựa tốt nhất.

–  Vị trí trại phải tiếp cận được nguồn điện 3 pha, đường lộ lớn và gần các khu vực có thể mua sắm trang thiết bị cần thiết cho trại và nhân viên.

–  Trại không nằm quá xa vùng tôm giống, thời gian vận chuyển tôm giống về trại phải dưới 12 tiếng đồng hồ (tốt nhất dưới 3 tiếng đồng hồ) để đảm bảo chất lượng tốt nhất của tôm giống.

–  Vị trí chọn lựa phải có cấu trúc đất thích hợp cho xây dựng ao, tránh các vùng đất dễ bị rò rỉ và dễ bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước xung quanh. Đặc điểm đất thích hợp cho xây dựng ao nuôi tôm phải đảm bảo:

+ Xây dựng bờ bao và bờ ao ít tốn kém nhất

+ Đảm bảo tăng trưởng tốt các loài tảo có lợi (tảo khuê)

+ Ít bị thất thoát nước nhất

+ Đất phải có hàm lượng sét tối thiểu để giảm thất thoát nước do rò rỉ.

+ Đất phải có hàm lượng hữu cơ thấp

+ pH đất nằm trong khoảng 5,5 đến 8,5

+ Tránh các vùng đất a xít sufate, đất rời, tơi xốp, đất hữu cơ, đất có kết cấu lỏng lẽo, đất mềm và dễ thấm,…là không thích hợp cho việc xây dựng ao tôm.

2. Nguồn nước cấp và chất lượng nước

–  Độ mặn thích hợp nhất cho nuôi tôm sú và tôm thẻ là 15 đến 25 phần ngàn (15-25 ppt). Lượng mưa và sự bốc hơi có ảnh hưởng đến biến động độ mặn. Trong mùa khô độ mặn quá cao sẽ giảm tốc độ tăng trưởng của tôm và gia tăng chi phí sản xuất.

–  pH nuôi tôm biển dao động trong khoảng 7,5 đến 8,5, tốt nhất là 7,8 đến 8,2.

–  Chất lượng nguồn nước ven bờ thường bị ảnh hưởng bởi đất a xít, các yếu tố chất đất và các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động xả thải của ngành công nghiệp, đô thị, nông nghiệp,…cần lưu ý để tránh xa tối đa các nguồn ô nhiễm càng tốt.

3. Thiết kế ao

Hầu hết ao nuôi tôm thịt được thiết kế theo các tiêu chuẩn sau: –  Ao nuôi có diện tích xấp xỉ 1ha (ao nhỏ nhất 500m2, ao lớn nhất 2 ha)

–  Ao hình vuông có góc bo tròn – có 1 góc lát bê tông trên bờ nối với đường đi. Tránh xây dựng ao có góc “chết” sẽ làm giảm khả năng lưu chuyển nước.

–  Bờ ao có độ dốc 2 đến 2,5 : 1 (hệ số mái), có thể lót bạt được.

–  Các ổ điện 3 pha được kéo quanh ao nhằm đảm bảo hoạt động của máy quạt nước dễ dàng.

–  Đáy ao có độ dốc 1:100 hướng đến phần sâu nhất nơi có cống thoát (Hình 2).

Hình 1. Điển hình của thiết kế ao và vị trí ao nuôi tôm ở Úc

Chú thích:

alternative discharge point: vị trí thải nước chọn lựa khác; bioremediation: ao xử lý sinh học, settlement: ao lắng chất cặn của nước từ ao nuôi; recycle pump: bơm tái sử dụng nước sau khi khi xử lý sinh học; reservoir: ao lắng; drain: kênh thải nước ao nuôi; aqueduct: kênh cấp nước cho ao nuôi; intake pump: bơm nước từ bờ biển vào ao chứa; discharge point: thải nước sau khi đã lắng ở ao lắng.

Hình 2. Thiết kế công trình ao nuôi tôm

Chú thích:

drain harvest pad: cống thu hoạch; monk outlet: cống thoát; aqueduct: mương cấp; inlet filter sock: cống cấp nước; cầu ra ao; roadway: đường đi; drain: mương thải; HAT: đỉnh triều cao nhất.

Hình 3. Cống thoát của ao nuôi tôm

Chú thích:

filter screen: lưới lọc; lowest point of pond: điểm thấp nhất của đáy ao; walking plank: tấm ván làm đường đi bộ; outlet pipe: cống thoát (đường kính 600-800 cm), bottom of outlet pipe above HAT: đầu ra của cống thoát phải cao hơn đỉnh triều cao; concrete harvest pad: vị trí thu hoạch tôm được bê tông hóa.

4. Ao chứa và hệ thống mương cấp nước

–  Cần có ao chứa nước để lấy nước biển vào chứa với thời gian lắng thích hợp (ít nhất 3 tuần). Vì vậy diện tích ao chứa nước ít nhất là 10% tổng diện tích trại. Sau khi lắng nước và xử lý ở ao chứa, nước được lọc vào các mương cấp đế cấp nước cho ao nuôi.

–  Các cống cấp nước từ mương cấp vào ao nuôi phải được lắp đặt cao hơn bên trên mức nước ao nuôi để các lưới lọc nước được giữ khô sau khi lọc nước vào ao nuôi. Cống cấp nước vào ao nuôi phải có công suất cấp nước tối thiểu 100 lít/ha/giây để cấp nước nhanh và thay nước nhanh khi cần thiết. tag: may thoi khi

Hình 4a. Lấy nước từ biển vào ao chứa

Hình 4b. Hệ thống bơm – bơm nước từ ao chứa vào mương cấp

Hình 5. Hệ thống mương cấp nước vào ao nuôi sau khi lấy nước từ ao chứa

5. Hệ thống mương thải và đường đi bộ

–  Hệ thống mương thải phải đủ rộng để thu nước thải trong quá trình thay nước và xả nước khi thu hoạch – cũng như thải nước từ mương thải vào ao lắng và ao xử lý sinh học. Vị trí thải của ao đủ rộng để đặt lồng khi thu hoạch cũng như dễ dàng tiếp cận đường đi bên trên khi nâng các giỏ tôm thu hoạch.

–  Bờ ao có thể được thì trồng cỏ (ở phần trên mặt nước) để giảm thiểu rò rỉ nước. Các bờ ao của các ao nên có độ cao như nhau để dễ dàng điều phối, quản lý nước.

6. Ao lắng và ao xử lý sinh học

–  Các chất thải rắn và dinh dưỡng hòa tan trong nước thải ao nuôi sau thu hoạch sẽ được đưa vào ao lắng (ao lắng thường phải có diện tích lớn (chiếm 30% tổng diện tích trại).

–  Sau khi nước thải được lắng cặn, phần nước mặt được đưa qua ao xử lý sinh học là nơi thả nuôi các loài cá đối hoặc cá măng, rong và hầu để xử lý sinh học nguồn nước nuôi cũng như tăng thu nhập thêm từ các loài sản xuất sinh học.

Hình 6. Ao xử lý sinh học

Chú thích:

intake pump: bơm nước bơm vào ao chứa; reservoir: ao chứa; aqueduct: mương cấp nước ao nuôi; settlement channel of treatment pond: kênh lắng của ao xử lý; recycle pump: bơm tuần hoàn tái sử dụng nước; bioremediation zone treatment: khu vực xử lý sinh học (bằng công nghệ nước chảy race-way). tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-su-cong-nghiep-cua-uc-phan-1-36615.html

Hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thâm canh hạn chế dịch bệnh

Diễn biến phức tạp của các loại dịch bệnh bệnh nguy hiểm trên thế giới nhất hội chứng gan tuỵ cấp tính chưa tìm ra tác nhân gây bệnh; thời tiết có nhiều diễn biến bất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu… tag: máy quạt nước

Hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thâm canh hạn chế dịch bệnh

Ở tỉnh ta, theo đề án nuôi trồng thuỷ sản năm 2013, toàn tỉnh sẽ thả nuôi trên 1.000ha tôm thẻ chân trắng; hơn một tháng qua bà con đã tập trung cải tạo ao đầm, hiện tại đã cải tạo chuẩn bị đạt trên 95% diện tích ao đầm nuôi, theo lịch thời vụ thả giống vụ Xuân Hè bà con ngư dân đang tập trung thả giống.

Để thực hiện tốt kế hoạch vụ nuôi Xuân hè, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do các yếu tố thiên tai, dịch bệnh có thể gây ra, trên cơ sở tài liệu của Tổng cục Thuỷ sản xin lưu ý các hộ/cơ sở nuôi trong tỉnh một số biện pháp kỹ thuật sau:

1. Công tác chọn và thả giống:

1.1 Chọn giống:

– Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín; có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vằng, taura, hoại tử gan tuỵ…

– Cở giống: P12.

– Kiểm tra sức khoẻ tôm: bà con có thể đánh giá sức khỏe của tôm giống bằng phương pháp gây sốc độ mặn, lấy 40 – 50 con tôm giống cho vào cốc thuỷ tinh chứa 300ml nước lấy từ bao vận chuyển giống (hoặc từ bể ương).; hạ độ mặn đột ngột xuống còn 15%0 và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.

1.2 Thả giống:

– Mật độ thả: 30 – 60 con/m2 (đối với những hộ mới chuyển đổi) và 30 – 60 con/m2 (những hộ có kinh nghiệm và điều kiện).

– Cách thả:

+ Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.

+ Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8 – 12 giờ để bảo đảm hàm lượng oxy hoà tan trong ao phải lớn hơn 4mg/l.

+ Cân bằng nhiệt độ giữa bao giống và nước ao nuôi bằng cách thả nỗi bao tôm giống trên mặt hồ 5 – 10 phút. Sau đó, cho nước từ từ vào đầy bao, cầm phía đáy bao từ từ dốc ngược để tôm giống theo nước ra ao nuôi.

2. Chăm sóc và quản lý ao nuôi:

2.1 Cho ăn:

* Cho tôm ăn theo bảng hướng dẫn. Ngoài ra tuỳ vào thực tế (sức khoẻ của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết,…) và theo dõi sàng ăn/chài khi tôm 20 ngày tuổi trở lên để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho tôm ăn thiếu hoặc thừa ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm. Cho tôm ăn mỗi ngày 3 lần.

* Lượng thức ăn:

– Tháng nuôi thứ nhất: Sử dụng thức ăn cở nhỏ cho tôm giai đoạn mới thả nuôi.

+ Ngày đầu tiên cho ăn 2,8 – 3 kg/100.000 tôm giống; trong 10 ngày đầu tiên, cứ 1 ngày tăng 0,4 kg/100.000 tôm giống; từ ngày thứ 10 – 20, cứ 1 ngày tăng 0,5 kg/100.000 tôm giống;

+ Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho ít thức ăn vào sàng/nhá để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Sàng ăn cần đặt ở nơi bằng phẳng, cách bờ ao 1,5 – 2 m, sau cánh quạt nước 12 – 15 m, không đặt ở các góc ao, với diện tích 1.600 – 2.000 m2đặt 1 sàng ăn.

+ Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung vitamin, khoáng chất cho tôm ăn theo chỉ dẫn của nhà sản xuất cung cấp giúp tôm tăng sức đề kháng.

– Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch:

+ Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn trên sàng ăn.

+ Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cở miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày rồi mới chuyển hẳn sang cho ăn thức ăn số mới.

+ Cách điều chỉnh lượng thức ăn:

Kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá

Cách xử lý cho lần ăn tiếp theo

Nếu tôm ăn hết

Tăng 5% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 10%

Giữ nguyên thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 11 – 25%

Giảm 10% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn dư khoảng 26 – 50%

Giảm 30% thức ăn cho lần sau

Nếu thức ăn còn nhiều hơn 50%

Ngưng cho ăn lần sau

Ảnh: Kiểm tra thức ăn tôm trong sàng/nhá

+ Thời gian kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá:

Thời gian nuôi (ngày)

Thời gian kiểm tra sàng ăn (giờ)

21- 60 ngày : 2,5 – 2 giờ

61 – 90 ngày: 2 – 1,5 giờ

> 90 ngày: 1,5 – 1 giờ

* Lưu ý: Nhưng ngày thay đổi thời tiết, mưa, nắng gắt chỉ cho tôm ăn 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh dư thừa gây ô nhiễm nước. Theo dõi kỳ lột vỏ của tôm để giảm lượng cho ăn và tăng sau khi tôm lột vỏ xong. tag: may thoi khi

2.2 Quản lý môi trường ao nuôi:

– Thực hiện tốt việc kiểm tra và xử lý các yếu tố môi trường như sau:

+ Đo hàng ngày các chỉ số: oxy hoà tan, pH, độ trong.

+ Đo 3 – 5 ngày 1 lần các chỉ số: Độ kiềm và NH3.

* pH và độ kiềm là 2 yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm; khi pH và độ kiềm thay đổi ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm, do vậy cần:

+ Khắc phục tình trạng pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 – 40cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều 10 – 20kg/1.000m3nước.

+ Khắc phục tình trạng pH cao: sử dụng đường 3kg/1.000m3nước kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic 3 lít/1.000m3nước.

+ Khắc phục độ kiềm thấp: sử dụng Dolomite 15 – 20 kg/1.000m3nước vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu.

+ Khắc phục độ kiềm cao: sử dụng EDTA 2 – 3kg/1.000m3nước vào ban đêm.

Tuỳ vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi để điều chỉnh và bón lượng vôi thích hợp.

– Định kỳ bón vôi nông nghiệp CaCO3 10 ngày/lần vào lúc 20 – 21 giờ với liều lượng dao động từ 15 – 20 kg/1.000m3nước tuy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp:

+ Nếu độ mặn dưới 17%o thì điều chỉnh pH từ 8,2 – 8,4;

+ Nếu độ mặn trên 17%o thì điều chỉnh pH từ 8,0 – 8,2;

+ Nếu độ mặn = 25%o thì điều chỉnh pH từ 7,7 – 7,8;

Đến 11 – 12 giờ trưa ngày hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà cung cấp (sản phẩm có uy tín, thương hiệu) để làm sạch môi trường;

– Khi tảo trong ao phát triển quá mạnh, màu nước thay đổi, pH dao động trong ngày > 0,5, cần:

+ Thay đổi tối thiểu 30% lượng nước trong ao;

+ Hoà tan 2 – 3kg đường cát/1.000m2 và tạt đều ao vào lúc 9 – 10 giờ sáng;

+ Chạy quạt, sục khí liên tục trong vài giờ;

– Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 340C:

+ Cần giảm thức ăn;

+ Bổ sung Vitamin C (trộn vào thức ăn);

+ Tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí;

* Một số lưu ý:

– Hạn chế lấy nước vào ao nuôi, khi cần thiết thì lấy vào hồ chứa lắng rồi xử lý Chlorin liều 30kg/1.000m3nước chạy quạt liên tục, đến khi hết dư lượng Chlorin thì bơm vào ao nuôi (qua túi lọc);

– Luôn duy trì độ kiềm đạt 120mg/lít trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3hoặc vôi Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3 – 5 ngày/lần giúp tôm lớn nhanh, cứng vỏ và lột xác đồng loạt.

– Chỉ diệt khuẩn khi cần thiết (tránh những trường hợp như: tôm đang suy yếu, đang lột xác, hay có các bệnh về gan tuỵ…);

– Hạn chế sử dụng men vi sinh trong giai đoạn đầu (khi mới thả giống đến 1,5 tháng nuôi);

– Tháng thứ nhất cần giữ màu nước hồ nuôi thích hợp (xanh nõn chuối) tạo sự ổn định các chỉ số môi trường như pH, độ kiềm, nhiệt độ, oxy hoà tan,…tránh sinh tảo đáy hoặc tảo phát triển quá mức.

– Tháng thứ hai:

+ Giữ màu nước hồ nuôi thích hợp; mực nước ao 1,2 – 1,8m để sự dao động về nhiệt độ, oxy hoà tan, pH giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm không làm gây sốc tôm. Duy trì độ trong 30 – 40cm; độ kiềm 120mg/l trở lên; độ mặn 15 – 25%o ; pH 7,5 – 8,5; oxy hoà tan lớn hơn 4mg/l; H2S <0,01mg/l; NH3 < 0,1mg/l;

+ Định kỳ 20 – 25 ngày xử lý nước và đáy hồ nuôi bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà cung cấp;

+ Quạt nước, bổ sung oxy từ 19h00 đến 05h00 sáng hôm sau;

+ Có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, các loại khoáng trộn vào thức ăn theo hướng dẫn của nhà cung cấp có thương hiệu, uy tín để tăng sức đề kháng cho tôm nuôi. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/huong-dan-mot-so-bien-phap-ky-thuat-nuoi-tom-chan-trang-tham-canh-han-che-dich-benh-36622.html

Cách tính lượng thức ăn để trong sàng ăn

Trong thực tế, việc định ra 1 tiêu chuẩn là rất khó vì nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố như mật độ thả nuôi, tình trạng sức khỏe tôm, loài tôm thả nuôi hoặc thậm chí trong cùng 1 trại nuôi thì giữa các ao nuôi cũng khác nhau do tình trạng sức khỏe của tôm… tag: máy quạt nước

Cách tính lượng thức ăn để trong sàng ăn

Vì vậy, bài viết này chỉ cung cấp một số kinh nghiệm để bà con nuôi tôm có cơ sở dựa vào đó mà điều chỉnh để rút tỉa kinh nghiệm trong quá trình nuôi.

I. Kinh nghiệm nuôi tôm ở Đài Loan về việc định lượng thức ăn đưa vào sàng ăn và thời gian kiểm tra như sau:

1. Cách bố trí sàng ăn

– Sàng ăn không được để gần nơi quạt nước.

– Sàng ăn không để nơi đáy ao bị nghiêng.

– Sàng ăn không để nơi đáy ao dễ bị ô nhiễm. tag: may thoi khi

2. Số lượng Sàng ăn

Diện tích ao (ha) Số lượng sàng ăn (cái)
0,5 4
1 6
1,5 9

3. Tỉ lệ thức ăn cho vào sàng ăn

Trọng lượng thân 2g-6g 6g-15g 15-25g 25-45g
Ngày thả nuôi 31-50 51-75 76-110 11-130
Lượng thức ăn trong sàng 2,4% 3,0% 3,5% 4%

4. Kiểm tra và điều chỉnh

Trọng lượng thân 2g-6g 6g-15g 15-25g và > 25g
Tình trạng bắt mồi và điều chỉnh
*Trong 1,5 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 2 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 2 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp
*Trong 1,5 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 2 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 2 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp
*Trong 1 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 1,5 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 1,5 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp

II. Kinh nghiệm nuôi tôm ở Thái lan thì sử dụng Bảng sau

Trọng lượng tôm (g) Lượng thức ăn trong sàng tính trên kg thức ăn cho ăn (g/kg/sàng) Thời gian kiểm tra (giờ)
1,5-4 1 2,5
5-8 2 2,5
9-13 3 2
14-22 4 2
23-33 5 1,5

Như vậy có sự khác nhau nhiều trong kinh nghiệm định lượng thức ăn, rõ ràng việc cân vó thức ăn tùy thuộc nhiều vào kinh nghiệm – Bà con có thể dựa trên cơ sở của các Bảng bên trên để tự điều chỉnh và rút tỉa kinh nghiệm cho mình. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-tinh-luong-thuc-an-de-trong-sang-an-36623.html

Tổng kết một số kinh nghiệm đối phó dịch bệnh gan tụy

Bài viết này tổng kết những kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình thực hiện quy trình nuôi 3 pha dùng men vi sinh và mật đường cũng như quá trình tư vấn, tiếp xúc trao đổi các trại nuôi thành công nhằm giới thiệu giúp bà con nông dân có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm nuôi cho vụ nuôi thành công. tag: máy quạt nước

Tổng kết một số kinh nghiệm đối phó dịch bệnh gan tụy

1) Quy trình 3 pha dùng men vi sinh và mật đường (ao đất):

Pha 1: Trong tháng nuôi đầu tiên (từ ngày 1 đến ngày 35) do lượng thức ăn cho tôm ăn chưa nhiều nên chất dơ đáy ao chưa nhiều vì vậy bà con nuôi tôm nên dùng tảo kiểm soát chất lượng nước cũng như tạo thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, tuy nhiên kỹ năng và kiến thức của pha nuôi này cần tập trung vào các vấn đề sau:

– Điều chỉnh lượng vi sinh có lợi và mật đường ở mức độ thấp đủ để kiểm soát mật độ tảo ở mức cho phép (không quá cao và không quá thấp)

– Nếu mật độ tảo quá thấp hoặc quá cao sẽ làm các yếu tố môi trường biến động lớn trong ngày dẫn đến sốc tôm và sức khỏe tôm kém đi, đặc biệt nếu để tảo quá dày sẽ làm rớt tảo gây nhiều nguy hiểm cho ao nuôi.

– Tạo các loài tảo có lợi (tảo khuê, tảo lục) để ức chế Vibrio cũng như giải quyết tảo độc (tảo lam, tảo giáp, tảo mắt) bằng việc nuôi ghép cá rô phi và bón khoáng Sanolife Nutrilake (nuôi ghép rô phi còn giúp ích là cá rô phi ăn các tôm bị chết, tránh lây lan trong ao).

Pha 2: từ ngày 35 đến ngày 50: khi thức ăn cho tôm ăn bắt đầu nhiều thì lượng chất dơ đáy ao gia tăng nên cần kiểm soát chất lượng nước thông qua việc phân giải chất hữu cơ đáy ao bằng vi sinh có lợi kết hợp việc kiểm soát tốt các yếu tố chất lượng nước như oxi hòa tan, Kiềm, pH nhằm ngăn ngừa việc hình thành khí độc trong ao.

– Điều chỉnh lượng mật đường và vi sinh có lợi ở mức vừa phải để chuyển dần pha tảo qua pha vi sinh – việc này cần điều chỉnh từ từ để có màu nước nâu là màu nước mà mật độ vi sinh đạt tối ưu cho việc xử lý các chất dơ giai đoạn này.

Pha 3: từ ngày 50 đến thu hoạch khi chất dơ đã quá nhiều thì việc kiểm soát chất hữu cơ cũng như khống chế mật độ Vibrio sp. bằng việc gia tăng áp đảo quần đàn vi sinh có lợi trong ao (chủ yếu là Bacillus sp.).

Màu nước pha nuôi này nên có màu kem sữa là tốt – là màu thể hiện mật độ cao của vi sinh Bacillus có lợi nhằm giải quyết chất dơ đáy ao, khống chế Vibrio sp.

Gia tăng hàm lượng Oxi hòa tan, đảo trộn tốt, kiểm soát tốt chênh lệch pH ngày đêm (tối đa 0,2-0,3) cũng như nâng cao độ kiềm và khoáng ăn, khoáng tạt có tính quyết định trong quy trình nuôi 3 pha dùng men vi sinh và mật đường. tag: may thoi khi

2. Quy trình vừa diệt khuẩn và cấy vi sinh + mật đường (ao lót bạt khu vực miền Trung)

Do các ao nuôi khu vực miền Trung thả mật độ quá cao nên mật số Vibrio trong ao thường rất nhiều ngay giai đoạn đầu nên khó có thể dùng tảo để kiểm soát chất lượng nước và khống chế Vibrio sp.

Hơn nữa khu vực miền Trung là vùng triều cao và ao lót bạt nên si phone và xả đáy dễ dàng vì vậy có thể áp dụng quy trình vừa diệt khuẩn định kỳ vừa cấy vi sinh mật đường để khống chế Vibrio ngay giai đoạn đầu.

Sau khi diệt khuẩn bằng Sanocare PUR khoảng 24 giờ sau thì tiến hành siphone khuẩn chết và chất dơ ra rồi đợi thêm 24 giờ nữa cho hết Sanocare PUR thì tiến hành cấy vi sinh (Sanolife PRO W) và đánh mật đường với quy trình lập lại 10 ngày 1 lần.

3. Một số kinh nghiệm khác trong đối phó bệnh chết sớm ở tôm

– Phải chọn được tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh

– Ương gièo giống PL12 từ 12 đến 15 ngày rồi mới thả ao.

– Phải lắng nước lâu, lọc nước kỹ.

– Nuôi độ mặn thấp

– Nuôi ghép cá rô phi

– Gia tăng Oxi hòa tan, Kiềm, khoáng và giữ ổn định mật độ tảo và pH trong ngày.

– Cắt cử ăn hoặc giảm lượng ăn khi thời tiết biến đổi bất thường.

– Khi tôm có dấu hiệu rớt đáy thì nên bỏ cử ăn 1 ngày và diệt khuẩn liều cao trong nước bằng Sanocare PUR (0,8-1 ppm) và sau đó cho ăn trở lại thì giảm bớt lượng ăn và gia tăng gấp đôi liều dùng men vi sinh đường ruột (Sanolife PRO 2), chất tăng cường sức đề kháng, bổ gan cho tôm (Sanolife TOP S) trong vòng 7-10 ngày rồi quay lại liều dùng bình thường. tag: may suc khi

Chúc bà con nuôi tôm có vụ mùa nuôi thành công và thắng lợi.

Chào thân ái !

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tong-ket-mot-so-kinh-nghiem-doi-pho-dich-benh-gan-tuy-36624.html

Công nghệ sinh học nuôi tôm sạch

Công nghệ sinh học nuôi tôm sạch

Hội thảo CNSH nuôi tôm sạch và phát triển bền vững

Vừa qua, Cty TNHH Sitto Việt Nam tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề “Probiotic Buffet – CNSH cho ngành nuôi tôm sạch và phát triển bền vững” cho người nuôi tôm tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng với hàng trăm nông dân đến tham dự. tag: máy quạt nước

Tại hội thảo, Thạc sỹ CNSH Phạm Minh Nhựt (Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM) trình bày về quy trình trình nuôi tôm sạch theo hướng sử dụng chế phẩm sinh học đến nông dân. Đồng thời giúp người nuôi tôm hiểu rõ về cơ chế, tác dụng, các trường hợp sử dụng và cách nhận biết một số dòng vi sinh chất lượng phục vụ trong nuôi tôm càng ngày tốt hơn.

Ông Theerapong Ritmak, TGĐ Cty giới thiệu về dòng sản phẩm vi sinh mới trong bộ Probiotic Buffet. Probiotic Buffet là sự chọn lọc, phối hợp giữa 10 chủng vi sinh khác nhau. tag: may thoi khi

Với 5 công thức dùng xử lý nước và 5 công thức men tiêu hóa, Probiotic Buffet đáp ứng nhu cầu sử dụng của người nuôi tôm.

Mặt khác, Probiotic Buffet giúp người nuôi tôm sáng tạo công thức bí quyết riêng, dễ dàng lựa chọn, phối trộn các sản phẩm sử dụng cho từng trường hợp trong suốt vụ nuôi.

Ông Theerapong Ritmak khẳng định, Cty Sitto Việt Nam luôn luôn nghiên cứu cải thiện chi phí và nâng cao hiệu quả ứng dụng của từng sản phẩm để giúp người nuôi tôm tiết kiệm tối đa chi phí và thành công. tag: may suc khi

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-nghe-sinh-hoc-nuoi-tom-sach-36635.html

Quản lý cho ăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Năng suất ao nuôi chân trắng rất cao, có thể đạt từ 15 – 20 tấn/ha, lượng thức ăn đưa vào ao nuôi trong một vụ sẽ vào khoảng 19 – 26 tấn/ha. tag: máy quạt nước

Quản lý cho ăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Quản lý thức ăn không tốt, ngoài việc làm chi phí vụ nuôi tăng cao, nhiều vấn đề khác liên quan đến việc biến đổi môi trường, ảnh hưởng sức khoẻ tôm nuôi và dịch bệnh sẽ nảy sinh.

Khác với tôm sú, tôm chân trắng có nhu cầu đạm (protein) trong thức ăn thấp hơn (khoảng 32-35%).

Theo thực tế khảo sát, nhiều trường hợp sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 40 – 45% (loại thức ăn dành cho nuôi thâm canh tôm sú) thì tôm thẻ có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao với thời gian nuôi ngắn hơn (đạt 80 – 100 con/kg sau 2 tháng nuôi.

Tuy nhiên, nếu sử dụng thức ăn này, ao nuôi thường ô nhiễm cao hơn và đòi hỏi người nuôi phải có trình độ quản lý ao nuôi tốt hơn.

Bên cạnh đó, tính ăn của tôm thể chân trắng cũng khác biệt nhiều với tôm sú. Tôm chân trắng có thể ăn được liên tục trong ngày, bắt được thức ăn lơ lửng và có ăn lại phân của chính nó.

Sức ăn của tôm chân trắng cũng phụ thuộc vào hàm lượng oxy hòa tan (xem phần Oxy hòa tan), nhiệt độ…

Chính vì thế việc theo dõi, điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp hàng ngày là rất quan trọng.

CHO ĂN TRONG THÁNG NUÔI ĐẦU

Trong tháng nuôi đầu, người nuôi thường rất khó đánh giá được tỷ lệ sống của tôm và cũng không đánh giá được sức ăn của tôm chân trắng do chúng còn nhỏ.

Trên các bảng cho ăn của nhà cung cấp thức ăn thì lượng cho ăn thường khá cao vì chúng được thiết kế trong điều kiện nuôi lý tưởng, thực tế lượng cho ăn nhỏ hơn như thế.

Trong nuôi tôm chân trắng, phần lớn những trang trại quản lý thức ăn dư thừa thường rơi vào giai đoạn tháng nuôi đầu vì người nuôi suy nghĩ rằng cho ăn thiếu tôm sẽ chậm lớn và mất sức tăng trưởng, các vấn đề biến động môi trường ao nuôi, tảo lam, dịch bệnh, khí độc tích tụ cũng sẽ xuất hiện nhanh chóng ngay sau một tháng nuôi, thậm chí ngay trong tháng nuôi đầu.

Số cữ cho ăn trong ngày nên chia ra 4 – 5 cữ/ngày để giúp tôm làm quen dần với môi trường nuôi mới (trong trại giống cho ăn 08 cữ/ngày cách nhau 03 giờ).

Bảng bên dưới hướng dẫn chi tiết các cho ăn trong tháng nuôi đầu, áp dụng cho 100.000 con tôm.

Bảng cho ăn trong tháng nuôi đầu – áp dụng cho 100.000 con

CHO ĂN TRONG CÁC THÁNG KẾ TIẾP

Trong các tháng nuôi kế tiếp, việc cho ăn sẽ được thực hiện bằng cách tính toán lượng thức ăn trong ngày dựa vào tổng trọng lượng đàn tôm.

Để có thể ước lượng tổng trọng lượng đàn tôm, người nuôi cần tiến hành chài, đánh giá trọng lượng trung bình của một con tôm, ước lượng tỷ lệ sống và tính được trọng lượng bình quân của đàn tôm đang có.

Từ tháng thứ 2 trở đi, có thể cho ăn 03 – 04 cữ/ngày và không cho ăn vào ban đêm nếu như hệ thống cung cấp oxy không được đáp ứng đầy đủ. Bảng cho ăn các tháng kế tiếp như bên dưới Trong các tháng nuôi kế tiếp, việc cho ăn sẽ được thực hiện bằng cách tính toán lượng thức ăn trong ngày dựa vào tổng trọng lượng đàn tôm.

Để có thể ước lượng tổng trọng lượng đàn tôm, người nuôi cần tiến hành chài, đánh giá trọng lượng trung bình của một con tôm, ước lượng tỷ lệ sống và tính được trọng lượng bình quân của đàn tôm đang có.

Từ tháng thứ 2 trở đi, có thể cho ăn 03 – 04 cữ/ngày và không cho ăn vào ban đêm nếu như hệ thống cung cấp oxy không được đáp ứng đầy đủ.

Bảng cho ăn các tháng kế tiếp như bên dưới

Thí dụ: Ao tôm thả 300.000 giống, ở ngày nuôi thứ 50 tiến hành chài 05 chài để kiểm tra, giả sử tổng số tôm của 05 chài là 578 con với tổng trọng lượng 3,9 kg. Như vậy,

Trọng lượng tôm bình quân là: (3.9 kg x 1.000 g): 578 con = 6,7 gam/con

Tỷ lệ sống ước lượng trung bình khoảng 90%, do đó:

Số tôm còn lại trong ao là: 300.000 x 90/100 = 270.000 con   Trọng lượng đàn tôm có trong ao là: 270.000 con x 6,7 g/con = 1.809 kg

Vì tôm nuôi có trọng lượng bình quân 6,7 g/con như đã tính ở trên, do đó so vào bảng trên, tỷ lệ cho ăn sẽ tương ứng khoảng 4,1%. Từ đó, ta tính được:

Tổng lượng thức ăn trong ngày là: 1.809 kg x 4,1/100 = 74 kg/ngày.

Lượng thức ăn/ngày tính được sẽ được chia làm 3 – 4 cữ cho ăn tuỳ theo ao nuôi khác nhau.

SÀNG ĂN (VÓ)

Kỹ thuật kiểm tra sàng ăn trong nuôi tôm chân trắng khác biệt nhiều với tôm sú. Vì tôm chân trắng ăn liên tục, ăn nhanh và bài tiết nhanh khi nhiệt độ cao, …cho nên việc điều chỉnh thức ăn thông qua sàng ăn khó khăn hơn nhiều. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp người nuôi cần phải duy trì ít nhất 01 dàn quạt hoặc 50% công suất quạt khi cho ăn, cho nên việc đánh giá sức ăn qua sàng không chính xác lắm. tag: may thoi khi

 

Bảng tham khảo lượng thức ăn bỏ vó và thời gian kiểm tra

Thí dụ: Tôm nuôi có trọng lượng 9,5 g/con (tương đương cỡ 105,2 con/kg), cho ăn 9,5 kg/cữ. Vậy lượng thức ăn bỏ vào 01 vó là: 9,5 (kg) x 3 (g/kg/vó) = 28,5 g/vó

Tôm chân trắng có vỏ mỏng và trắng trong, cho nên việc quan sát tôm ăn no hay không rất dễ dàng. Thông thường tôm ăn thức ăn công nghiệp thì có đường ruột màu nâu đen, khi thiếu thức ăn tôm sẽ ăn mùn bã, phân của chính nó, cho nên đường ruột sẽ có màu đen.

Chính vì thế, tôm chân trắng thường có đường ruột đầy và hiếm khi rỗng ruột như tôm sú, khi tôm chân trắng có đường ruột rỗng thì người nuôi nên nghĩ đến việc tôm nuôi có thể đang mắc bệnh.

Quan sát thức màu thức ăn trong đường ruột tôm sẽ góp phần đánh giá được cần phải tăng hay giảm lượng thức ăn cho lần sau

Tốt nhất nên kiểm tra đường ruột tôm khi kiểm tra vó, các trường hợp bên dưới cho thấy thiếu thức ăn (trong điều kiện bình thường) và cần phải tăng thức ăn cho lần sau:

Các trường hợp tôm còn đói khi kiểm tra vó, cần tăng thức ăn cho lần cho ăn kế tiếp. tag: may suc khi

Cần phải chú ý đến nhiệt độ và oxy hòa tan khi cho tôm ăn vì chúng có ảnh hưởng rất lớn đến tính ăn của tôm chân trắng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-cho-an-trong-nuoi-tom-the-chan-trang-36636.html